Đóng
vien

25/10/2017

Phát triển kinh tế tư nhân – con đường tất yếu

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, kinh tế tư nhân giữ vai trò chủ yếu và là động lực của tăng trưởng kinh tế. Không có kinh tế tư nhân cũng có nghĩa là không có cạnh tranh, không có sáng tạo, và hậu quả là kinh tế một nước không thể phát triển. Thực tiễn đã cho thấy phát triển kinh tế tư nhân là quy luật phát triển của một xã hội văn minh.

Mất 30 năm để thay đổi tư duy

Ở nước ta, kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể, các loại hình doanh nghiệp  (doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiêm hữu hạn, công ty hợp danh) và hợp tác xã (hợp tác xã kiểu mới là hình thức hợp tác kinh doanh giữa các tổ chức sản xuất kinh doanh tư nhân, cho nên thực chất cũng là tư nhân). Làng nghề nước ta bao gồm chủ yếu là hộ gia đình với hình thức kinh tế cá thể, tiểu chủ cũng thuộc khu vực kinh tế tư nhân; đồng thời lại cũng thuộc loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí siêu nhỏ.

Trong những năm nước ta thực hành thể chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân bị cải tạo và đi đến xóa bỏ, coi đó là những thành phần kinh tế “phi xã hội chủ nghĩa”. Năm 1986, mở đầu công cuộc Đổi Mới, Đại hội lần thứ VI của Đảng cũng chỉ mới đề cập việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, chưa nói rõ vị trí của kinh tế tư nhân. Cho đến năm 2016, Đại hội lần thứ XII của Đảng mới khẳng định “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”. Như vậy, từ khi bắt đầu công cuộc Đổi Mới năm 1986 đến nay, mất đến 30 năm, tại Đại hội lần thứ XII của Đảng (năm 2016), kinh tế tư nhân mới được khẳng định là “một động lực quan trong của nền kinh tế”. Đó là một bước thay đổi cần thiết về tư duy phát triển đất nước, thuận theo quy luật tự nhiên và xu hướng tiến bộ của thế giới văn minh.

Có thể nói đây là sự xác nhận thực tiễn đã và đang xảy ra trên đất nước ta trong những năm qua, đó là sự hình thành và phát triển của kinh tế tư nhân, mặc dù bị lép vế, chèn ép nhiều bề. Trong giai đoạn các năm 2006-2015, kinh tế tư nhân đã làm ra 40% GDP; 30% giá trị sản lượng công nghiệp; 80% giá trị hàng hóa, dịch vụ; thu hút khoảng 85% lao động cả nước, v.v… Riêng về làng nghề – một bộ phận quan trọng của kinh tế tư nhân, đến cuối năm 2016, cả nước có 5.411 làng nghề, trong đó có 1.864 làng nghề truyền thống, thu hút khoảng 11 triệu lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu (riêng hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu năm 2015 đạt khoảng 1,9 tỷ USD, chiếm khoảng 1,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, năm 2017 có thể đạt khoảng 2 đến 2,1 tỷ USD); tăng thu nhập cho lao động nông thôn (thu nhập của lao động làng nghề thường gấp 2 – 3 lần so với lao động thuần nông), hạn chế các tệ nạn xã hội, góp phần quan trọng xây dựng nông thôn mới. Điều đặc biệt cần nhấn mạnh là các làng nghề đang là nơi bảo tồn và phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc thể hiện trong các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống, góp phần phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể nước ta trong tiến trình phát triển bền vững đất nước và hội nhập quốc tế.

Từ thực tiễn này, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3-6-2017 của Trung ương Đảng về phát triển kinh tế tư nhân đã khẳng định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”, đề ra những chủ trương rất quan trọng và toàn diện, như: “Kinh tế tư nhân được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm”. “Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỷ trọng đóng góp trong GDP”. “Phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp. Phấn đấu tăng tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP để đến năm 2020 đạt khoảng 50%, năm 2025 khoảng 55%, đến năm 2030 khoảng 60 – 65%”. Nghị quyết cũng đề ra những chủ trương, biện pháp nhằm “Xoá bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng”.

Sự thay đổi tư duy về kinh tế tư nhân là một bước tiến quan trọng về tư duy, quan điểm trong công cuộc xây dựng đất nước ta, mở ra một chương mới, tạo động lực mới trong quá trình phát triển kinh tế tư nhân, đó là điều cần khẳng định. Tuy nhiên, công cuộc phát triển bền vững đất nước đòi hỏi cải cách hệ thống thể chế, cả thể chế chính trị và thể chế kinh tế, trong đó thể chế chính trị là quyết định; điều này Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và đang triển khai trong bối cảnh cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Như vậy, chỉ có đẩy mạnh cải cách một cách đồng bộ hệ thống thể chế, kinh tế tư nhân mới có thể phát triển, thực sự xứng danh là “một động lực quan trọng của nền kinh tế”.

trungbay-4

Tiếp tục tháo dỡ các rào cản

Để thực hiện chủ trương phát triển kinh tế tư nhân như Nghị quyết của Đảng đã đề ra, cần tiếp tục tháo dỡ các rào cản. Về vấn đề này, đã có nhiều ý kiến của các chuyên gia đăng trên các báo, cũng như trên Thời báo Làng nghề Việt; trong bài này, xin được nhấn mạnh một số vấn đề như sau.

Vấn đề cấp bách hiện nay là đặt ra là tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật, hoàn chỉnh hành lang pháp lý thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, trong đó có các làng nghề chúng ta. Trong nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước ta dã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về phát triển doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp tư nhân, như Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005 và nhiều văn bản khác. Chính phủ đã có nhiều văn bản tháo gỡ những rào cản đối với doanh nghiệp tư nhân, trong đó, không ít những rào cản do chính các bộ, ngành tạo ra để thu vén lợi ích cho bộ, ngành, đẩy khó khăn cho doanh nghiệp. Đó là những vấn đề nóng bỏng và bức xúc của doanh nghiệp, như tiếp cận vốn tín dụng, đất đai, mở rộng thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ,… nhằm giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh, thành công trong hội nhập quốc tế. Ngày 12-6-2017, Quốc hội đã ban hành Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân.

Điều cần ghi nhận là thời gian gần đây, theo mục tiêu “kiến tạo, liêm chính, hành động và phục vụ”, Chính phủ đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực, như: Thủ tướng tiếp xúc, đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp; gặp mặt lãnh đạo các hiệp hội doanh nghiệp; tọa đàm với các tập đoàn, doanh nghiệp tư nhân hàng đầu; thành lập Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân,… Có hai nghị quyết quan trọng: Nghị quyết 19-2016/NQ-CP (ngày 28-4-2016) của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết 19-2017/NQ-CP (ngày 6-2-2017) của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020. Đáng chú ý là tại Nghị quyết 35-2017/NQ-CP (ngày 16-5-2017), Chính phủ đã đề ra 10 nguyên tắc về quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, trong đó, có quy định rất quan trọng là Chính phủ cam kết không hình sự hoá các hoạt động kinh tế, không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời đã đề ra nhiệm vụ cụ thể của các bộ, ngành và UBND địa phương. Những văn bản kể trên đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Chính phủ về phát triển doanh nghiệp. Hy vọng rằng việc thực hiện đầy đủ các chủ trương, chính sách đề ra trong các văn bản đó sẽ có tác động tốt, tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển.

Điều đáng quan tâm là mấy năm gần đây, doanh nghiệp tư nhân vẫn còn ở quy mô  nhỏ, được coi là “chậm lớn”: hiện có đến 96% là nhỏ và siêu nhỏ, chỉ có 2% thuộc quy mô vừa. Nguyên nhân chủ yếu là do những bất bình đẳng, những ưu ái bất hợp lý giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cả những doanh nghiệp tư nhân thuộc loại “sân sau” “thân hữu” với công chức. Hơn nữa, ngoài số khoảng 600.000 doanh nghiệp hiện có, còn khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể nhưng vẫn dậm chân tại chỗ, không chuyển đổi thành doanh nghiệp như Nhà nước mong muốn. Cần có những chính sách thiết thực hơn nữa nhất là trong phân bố nguồn lực để khuyến khích doanh nghiệp mở rộng quy mô, tăng cường liên doanh, liên kết, tăng thêm sức mạnh cho nền kinh tế.

Cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước. Mấy năm gần đây, bộ máy hành chính đang có xu hướng phình ra: tổ chức cồng kềnh, trùng lắp, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả; công chức yếu kém về trình độ, năng lực, sa sút về phẩm chất, tham nhũng tràn lan. Doanh nghiệp đang chịu gánh nặng thuế, phí quá cao lên đến 39,4% so với lợi nhuận – mức cao so với các nước trong khu vực; quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp bị xâm phạm (hiện còn đến trên 5.700 điều kiện kinh doanh, trong đó có ít nhất một nửa là bất hợp lý; gần đây, riêng Bộ Công thương đã cắt bỏ 675 điều kiện), cùng với những thủ tục phiền hà, đòi hỏi xin – cho, yêu cầu “bôi trơn”,…làm tăng thêm chi phí, giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì vậy, sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế và xây dựng đội ngũ công chức liêm chính được coi là một nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và Nhà nước đang xúc tiến.

Thế nhưng, trong khi Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ tuyên bố rất mạnh mẽ, quyết liệt, đề ra những giải pháp thiết thực về cải thiện môi trường kinh doanh, thì không ít Bộ, ngành và công chức, viên chức cấp thừa hành lại tiếp tục đề ra những thủ tục hành chính mới, giám sát, thanh tra, kiểm tra, tiếp tục gây khó khăn cho doanh nghiệp, với chiêu bài là “tăng cường quản lý nhà nước” (!). Vì vậy, rất cần nêu cao kỷ luật chấp hành nghị quyết, xử lý nghiêm khắc các hành vi không tuân thủ pháp luật, nhũng nhiễu doanh nghiệp tư nhân, đi ngược lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Mặt khác, điều căn cơ hơn nữa là phải tiếp tục cải cách việc phân bố các nguồn lực theo nguyên tắc thị trường, khắc phục tàn dư của cơ chế xin – cho còn dai dẳng trong khá nhiều quyền của Nhà nước, nhất là quyền phân bổ nguồn lực (đất đai, tín dụng…). Phải thực hiện công khai, minh bạch các quy hoạch, dự án… với sự giảm sát của doanh nghiệp. Xóa bỏ mọi ưu ái bất hợp lý, thực hiện cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Cuối cùng là phát huy vai trò của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp trong công cuộc phát triển kinh tế tư nhân. Thực tiễn của các nền kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới đã chứng minh: một xã hội phát triển phải có sự vận động hài hòa của ba bộ phận: Nhà nước pháp quyền, thị trường và xã hội. Nhà nước pháp quyền  hoạch định thể chế, chính sách, hình thành khung khổ pháp luật về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động. Xã hội (thường được coi như khu vực thứ ba) gồm những tổ chức tự nguyện có chức năng khắc phục những khiếm khuyết của thị trường (thường chạy theo lợi nhuận, thiếu chú ý bảo vệ môi trường, hoặc cạnh tranh không lành mạnh…); tham gia xây dựng thể chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp; trợ giúp doanh nghiệp trong ứng dụng khoa học công nghệ, xúc tiến thị trường, bồi dưỡng nhân lực, đổi mới quản lý, nâng cao văn hóa kinh doanh,… cũng có nghĩa là góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp và năng lực của doanh nhân, – những việc có ích cho doanh nghiệp mà Nhà nước không làm hoặc làm kém hiệu quả.

Cả nước ta hiện có khoảng 500 hội, hiệp hội hoạt động trong phạm vi cả nước và khoảng 52.000 hoạt động trong phạm vi tỉnh/thành phố. Trong số các hội, hiệp hội, có nhiều tổ chức gọi là “xã hội – nghề nghiệp” thu hút các doanh nghiệp cùng ngành nghề, ví như Hiệp hội Làng nghề Việt Nam chúng ta. Trong bước phát triển mới của kinh tế tư nhân, rất cần nâng cao chất lượng hoạt động của các hội, hiệp hội này, phục vụ thiết thực hơn nữa kinh tế tư nhân.

Tóm lại, từ chỗ bị kỳ thị đi đến xóa bỏ, kinh tế tư nhân đã được đặt vào vị thế là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Đây là một bước phát triển hợp quy luật. Tuy nhiên, để kinh tế tư nhân phát huy đầy đủ tiềm năng, thế mạnh, còn rất nhiều việc đòi hỏi sự cố gắng của từng doanh nghiêp, từng cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân cũng như những cải cách trong thể chế và đổi mới trong hoạt động của bộ máy nhà nước, với sự trợ giúp của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp liên quan.

 

Vũ Quốc Tuấn – Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Chủ điểm/Sự kiện Related